Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
XUÂN DIỆU VÀ DÒNG CHẢY TÌNH YÊU

Nguồn: ST
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Hằng (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:24' 26-07-2015
Dung lượng: 4.5 KB
Số lượt tải: 0
Mô tả:
(Qua hơi thở ca dao và các “ngã rẽ” tâm tình tiêu biểu)
I. Mở:
Cuộc đời muôn màu, muôn vẻ mà tình yêu là chất liệu gợi nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của con người. Không phải ai cũng làm thơ tình được nhưng không làm thơ tình được thì chẳng thể nói người đó không biết yêu. Một điều chỉ có thể khẳng định là: Người làm thơ tình yêu cuồng nhiệt quả phải có một trái tim yêu. Xuân Diệu là một điển hình trong những trái tim yêu đó.
Người ta biết đến Xuân Diệu (1916 – 1985) vì những bài thơ tình độc đáo.Thế nhưng Xuân Diệu là một người tài hoa. Suốt thời gian 1939 đến 1983, chàng tóc quăn này lả lướt ngọn bút như những nhạc sĩ chơi mười ngón điêu luyện trên phím đàn. Bên cạnh những tập thơ nổi tiếng như ”Thơ Thơ” (1938), ”Gửi Hương Cho Gió” (1945), những tập truyện ngắn, bút ký, tiểu luận phê bình của Xuân Diệu xuất hiện như: ”Phấn thông vàng” (1939), ”Trường ca” (1945), ”Việt Nam ngàn dặm” (1946),”Ba thi hào dân tộc” (1959), ”Phê bình giới thiệu thơ” (1960), ”Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, các nhà thơ cổ điển Việt Nam” (1968 -1981), ”Một Khối Hồng” (1964), ”Thanh Ca” (1982), ”Tuyển tập thơ”(1983)… đã lần lượt ra đời trong suốt bốn mươi bốn năm liền. Bên cạnh đó, Xuân Diệu còn xông vào cả lĩnh vực dịch thuật: “Thi hào Nadim Hitmet” (1962), ”Những nhà thơ Bungari” (1978-1985)…
Tài hoa như thế nhưng ít ai gọi chàng trai của Xã Tùng Giản, Tuy Phước, Quy Nhơn gốc Hà Tĩnh này là nhà văn, nhà phê bình, dịch thuật mà chỉ dùng bốn từ gọn ghẽ: “Nhà thơ Xuân Diệu“. Thân mật hơn nữa, mọi người quen gọi chàng tóc quăn này là “nhà thơ tình yêu!” Tình yêu muôn màu như cuộc đời. Không ai yêu ai mà giống nhau. Vì thế, chàng trai xứ Rùa này yêu đương cũng… khác người.“Cái khác người” này qua hơi thở ca dao và các “ngã rẽ tâm tình – thơ bè bạn” tiêu biểu bổ sung vào dòng chảy tình yêu của Trảo Nha – Xuân Diệu với sáu tính cách.
1. Trong tình yêu, chàng tóc quăn này thể hiện rất là “đàn ông”:
Trước hết, đó là người đàn ông chịu thương, chịu khó đầy… nịnh bợ:
Anh ta đã xắn tay áo xông vào… nhà bếp để nấu nướng mà không biết anh ta nấu cái món gì ngoài cái món mà ca dao “mớn” dùm:
Canh bầu nấu với cá trê
Ăn vô cho mát mà mê vợ già.
Nhưng chàng không thèm nấu cái món “bình dân học vụ”
này mà nấu món bí mật sau khi “chăm xong cái bếp nhà”:
Tâm thành cơm nước dọn bưng ra
Một tuần mong đến, hôm nay tiếp
Vào bát cho em vị đậm đà.
(Đứng chờ em)
Người ta nói: “Vắng đàn ông quạnh nhà. Vắng đàn bà quạnh bếp” nghe ra… trật lất! Căn nhà Xuân Diệu nghe ấm cúng hẳn lên bởi chính chủ nhân lao vào bếp. Kẻ nào mà được chàng “chăm chút” đến như vậy? Ta hãy nghe chàng tự hào:
Đời anh, em đã đi qua
Sáng thơm như một luồng hoa giữa đời.
(Đời anh em đã đi qua)
Vợ? Chắc chắn là không. Người con gái bí ẩn kia mà chàng “một tuần mong đến” mới hấp dẫn, mới hồi hộp còn bà vợ ở sẳn trong nhà ngày nào mà chả thấy, ngán đến tận mang tai, gai muốn chết! Rồi kẻ đợi chưa đến, chàng đợi lâu quá nhưng đâu có dám cáu. Chàng đầu bếp bất đắc dĩ này rất… dễ thương, cam lòng nhẫn nại: “Hãy đợi thôi, thương em vất vả, anh quên hết”. Không biết chàng có bực mình vì chờ một phút hơn nghìn thế kỷ mà làm tình, làm tội với ông bà Táo chăng? Khi nàng đến, ta hãy thử xem nàng là con cái nhà ai? Tiên nữ giáng trần hay Hằng Nga tái thế mà khiến chàng trai kia thiệt “tỉ mỉ” ngắm nàng trong “Em làm bếp”:
Trên trán em như gương
Giọt mồ hôi lấm tấm.
Tóc đôi cọng rơm vương
Anh nhìn em thương lắm.
Tính từ “thương lắm” biểu hiện mức độ tình cảm thân thiết lắm mới nhìn kỹ như thế chớ không chàng sẽ bị… chấm rớt cái bịch vì:
Đàn ông gì quá sổ sàng
Mới quen ngó dọc, ngó ngang hỡi chàng?
Nhưng cô nàng kia có lẽ… mệt quá, đói quá nên quên phắt… cặp mắt cú vọ xăm xoi mà ngồi vào bàn ăn ngay:
Bữa ăn thành một hội vui
Có em gắp với rau thôi cũng tình.
Cảnh thường cũng hóa ra xinh
Có em, anh hết ngẫm mình bơ vơ.
(Đời anh em đã đi qua )
Bây giờ, vỡ lẽ, cái “món bí mật” kia, bật mí ra là… “rau” thôi, chớ có mẹ gì đâu! Chàng dạo bản nhạc mở màn cho nàng nhớ tục ngữ nhân gian:“Đói ăn rau, đau uống thuốc“. Thế là nàng hoảng quá, thưởng thức tài nấu nướng của chàng thật là đậm đà nên cũng xắn tay áo, để nguyên cái đầu “vương rơm” mà nhào vô bếp chứ không dám để chàng trổ tài đâu. (Ăn làm sao nổi, nuốt làm sao trôi!) Chàng lúc này “chai mặt” nên đâu biết “quê” lại trở nên ngoan ngoãn, nịnh bợ:
Em có tài nấu nướng
Anh có tài ngợi khen.
Thế này gọi là thế “lật ngược thế cờ” hay thiệt, thấp cơ mà chẳng có hèn. Cả hai cùng có tài: ”Em có tài nấu nướng. Anh có tài…ngợi khen”. Huề cả làng. Thế là khán giả… vỗ tay!
Vậy thì cái người đang cùng chàng quăn làm bếp có phải là Hoàng Cát? Một chàng trai trong muôn ”Tình trai” của Xuân Diệu? Trong bài ”Xuân Diệu và Huy Cận hai nhà thơ đồng tình luyến ái” (tienve.org) Minh Nguyệt hé mở ”Hoàng Cát đi rồi, Xuân Diệu buồn vô cùng. Trong bài ‘Đời anh em đã đi qua’, còn có một đoạn cuối nói đến nỗi buồn trống vắng người yêu của Xuân Diệu:
Từ đây anh lại trong đời
Bữa ăn ngồi với một đôi đũa cầm
Giường kia một bóng anh nằm
Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều”.
Ta hãy đồng ý với Minh Nguyệt ”dù người yêu là con trai thì tình cảm của Xuân Diệu vẫn dạt dào và nồng cháy. Nếu chúng ta đừng để ý đến chuyện đồng tính luyến ái của nhà thơ”. Ta hãy cứ xem xét thơ Xuân Diệu trong lớp áo tình yêu đơn thuần Việt Nam.
Nguyên Sa khác Xuân Diệu, trong “Áo lụa Hà Đông“, chàng Trần Bích Lan này chân thành hơn: “Gặp một bữa, anh đã mừng một bữa“. Khỏi bày vẽ ăn uống mất thời gian quá nhưng nỗi mừng lẹ làng đó chứng tỏ chàng Nguyên chưa thấm cái câu: “Có thực mới vực được đạo” bằng chàng Xuân!
Thiệt ra, người con gái mà chàng tóc quăn xứ Rùa thương yêu, săn đón chỉ là con nhà dân giả với “tóc vương rơm“. Đi làm đồng mới vương rơm chớ đi đâu mà chui vào… đống rạ! Đàn bà, con gái thì cài bông, cài hoa chứ ai lấy rơm giắt lên tóc mà làm duyên bao giờ! Con gái nhà quê hiền lành, mộc mạc làm chàng quăn nhớ, đâu như người con gái… hiền như Masoeur của Nguyễn Tất Nhiên đã làm lòng chàng tan nát:
Em hiền như ma soeur
Vết thương ta bốn mùa.
Trái tim ta làm mủ
Ma soeur này ma soeur.
Có dịu dàng ánh mắt
Có êm đềm cánh môi
Ru ta người bệnh hoạn
Ru ta suốt cuộc đời.
(Ma soeur)
Với mối tình dân giả của chàng trai tóc quăn, cách hay nhất là khuyên chàng nấu món bình dân này:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
Khi chàng và nàng cưới nhau, chỉ cần tặng cho họ vài ký tôm (không phải râu) vài trái bầu (không phải ruột) thế là “nhất cử lưỡng thiện” nhưng nhớ kỹ đừng tặng món quà đặc biệt này cho “nàng masoeur” của Nguyễn Tất Nhiên mà làm chàng Nguyễn khốn khổ tập hai với vết thương ”tứ thời khúc” đó!
Công nhận phát “nhất cử lưỡng thiện” ấy linh nghiệm. Họ đã có… con (chẳng biết công chúa vương cọng rơm hay hoàng tử nịnh đầm?). Người đàn ông tóc quăn xứ Rùa lại càng da diết, cưng chìu, nịnh tiếp:
Con giống em, con cũng giống cha
Giống cái mũi thật thà thẳng sóng.
Nhìn gần giống trông xa cũng giống
Cũng mái đầu dợn sóng Nha Trang.
(Đứa con của tình yêu)
Bài thơ này mà ta nói… hay thì đúng là “mắt đui”, tâm hồn ”thui chột” nhưng chưa tìm ra cái “mượt mà” cũng không nói là dở vì cái ý thuộc loại “quỷ quái” lắm. Này nhé, cha ở xứ Rùa (Quy Nhơn) mà khen mái đầu con “dợn sóng Nha Trang” chứ không phải dợn sóng Quy Nhơn. Thôi, cho mày giống mẹ mày. Bỏ bốn từ “con cũng giống cha” ra thì còn “con giống em” (chưa chắc con anh vì anh đâu có… con được?) và giống thằng cha nó với mái đầu dợn sóng Nha Trang? (đâu phải riêng anh… quăn!). Trời ơi! Bình thơ như vậy là “đốt nhà” người ta rồi còn gì! Người cha xứ Rùa này đời nào dám nghĩ vậy vì “khiếp” cái tật của nàng tức “cái nư khi dỗi“. Thông qua hình ảnh đứa con, kẻ mới lên chức cha này đã “ớn lạnh” gián tiếp khi nựng cục cưng:
Nhưng con ta nó giống em hơn
Giống đi đứng, nghĩ suy, ăn nói.
Duy chẳng giống cái nư khi dỗi
Khi em hờn trời cũng phải thua.
Tục ngữ có câu: “Con gái giống cha, giàu ba họ. Con trai giống mẹ, khó ba đời“. Chắc chàng cũng biết điều đó nên dù cho “giàu ba họ, khó ba đời” gì cũng lạy trời, con đừng giống mẹ cái lẫy, cái hờn. Như vậy, chàng Xuân đâu có phải là ”đồng tình luyến ái”? Chỉ là ước mơ bình thường của một người biết yêu và khát khao hạnh phúc gia đình. Ta cứ cho, cứ hiểu là như vậy. Trong khi đó, chàng Nguyễn Tất Nhiên mới lò cò yêu iếc và cũng vẽ rồng, vẽ rắn cho mơ ước của mình:
Ta sẽ là vợ chồng.
Sẽ yêu nhau mãi mãi.
Sẽ se sợi chỉ hồng
Sẽ hát câu ân ái .
Sống trong mái nhà tranh.
(Hôn nhau lần cuối)
“Sống trong mái nhà tranh” mà không con thì ôi thôi:
Có chồng mà chẳng có con
Khác gì hoa nở trên non một mình.
Thơ năm chữ của Nguyễn Tất Nhiên mộc mạc như cái tên cúng cơm của chàng và cũng họ hàng chú bác gì với câu thần chú của dân gian: “Một túp lều tranh, hai trái tim vàng” mà hai ca sĩ Hùng Cường, Mai Lệ Huyền đã “phát ngôn tình yêu”… nghèo mạt rệp cho bản nhạc “Túp lều lý tưởng!” vang bóng một thời!
Cái gì trước hôn nhân cũng “sẽ“… đẹp đẽ, sau hôn nhân cũng “sẽ” nhưng cái “sẽ bẽ bàng” chống nạnh đứng chờ sau cánh cửa Tân hôn! Bởi vậy mới có câu:
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề.
Chàng trai tóc quăn với cái “vẹn câu thề” này ra sao? Chàng không còn là một chàng trai chịu thương chịu khó, nịnh đầm nữa mà trở thành:
2. Một chàng trai khổ với tình yêu vì mang nghiệp “đa tình”:
Xét kỹ mà nói: Bao nhiêu người “còn dang dở” nhưng tình đâu “chỉ đẹp”?.Xuân Diệu trong “Tình thứ nhất” thố lộ:
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em nên anh đã mất rồi.
Đã nói “thứ nhất” là phải có thứ tiếp theo nên chàng này yêu cũng… ba xạo! Thật ra, trên đời này, mỗi một con người nếu chỉ có một“tình thứ nhất” mà không thứ hai thì kẻ này sẽ… bẻ bút và không… gọi điện thoại nữa vì “nguồn sinh sự” đã cạn kiệt! Chao! Chuyện ấy không bao giờ xảy ra thế mới “khổ”! Các nhân vật trong kiếm hiệp của Kim Dung cũng hùng hùng, hổ hổ để rồi gát kiếm, ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi thế gian, tình là cái chi chi?”. Người thế gian điên cái đầu. Câu hỏi ấy vẫn nghìn năm treo trước gió!
Bởi vậy, chàng Xuân tóc quăn (khác ”Xuân tóc đỏ” của Vũ Trọng Phụng) càng yêu lắm nơi, bồ lắm chỗ chỉ có rước khổ vào thân. Mối tình thứ nhất của chàng ta đã “không chồng mà có con” sinh sôi nẩy nở, yêu qua hết bài thơ này đến bài thơ khác; hết tập thơ này đến tập thơ khác. Khiếp! Cho nên, chàng tha hồ rên trong “Em đọc lại thơ” như một lời trăn trối:
Mai sau dù có bao giờ
Em ngồi đọc lại chùm thơ đắng này.
Câu đầu thấy “quen quen”. Chúng hình như giông giống hai câu thơ mà Nguyễn Du đã để Kiều trăn trối với Thúy Vân:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phiếm này.
“E thơ” giống lúc Kiều năn nỉ Thúy Vân lấy Kim Trọng dùm:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa.
Nhưng không sao, văn học có khó tính như bà già góa chồng đi chăng nữa cũng không nỡ bắt lỗi “thơ vẫn giống thơ, người giống người!”.
Trở lại chữ “Tình” của Xuân Diệu, chàng vỗ ngực khẳng định chắc nụi với nàng rằng:
Có ai trên trái đất này
Yêu em sâu thẩm như ngày anh yêu?
Tan đi, nát lại bao hồi
Yêu em ai khổ trên đời bằng anh!
Thằng cha này mới đợi một chút đã than khổ, mới nấu ăn (luộc rau) có một bữa cũng than khổ “tan đi nát lại“, mới chịu cái “nư” một chút đã rên khổ! Ngón đòn “gậy ông đập lưng ông” là một nét đặc sắc của thơ Xuân Diệu… bị chửi cho chừa trong mảng thơ tình yêu của chàng quắn này. Mình rên “khổ” trong khi mình xuống bút, giấy trắng mực đen hẳn hoi:
Người ta khổ vì thương không phải cách
Yêu sai duyên và mến chẳng nhầm người.
Có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi
Người ta khổ vì xin không phải chỗ.
Đường êm quá ai đi mà nhớ ngó
Đến khi hay gai nhọn đã vào xương.
Vì thả lòng không kềm chế dây cương
Người ta khổ vì lui không được nữa.
(Dại khờ)
Toàn bộ thơ tình của Xuân Diệu nói riêng, thơ Xuân Diệu nói chung, bài thơ “Dại khờ” này coi như bài thơ “kết luận” được đúc kết từ thực tiễn. Tôi cho đó là bài thơ lý trí hay nhất của Xuân Diệu về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.
Cái “khổ” của chàng Xuân tóc quăn vì ”thương không phải cách” làm “tan đi, nát lại” là cái khổ ”bụng làm dạ chịu“. Chàng phạm lỗi lầm cho nên bị nàng cho “de” một bên, bỏ mặc chàng với “lỗi lầm anh trả bằng đau đớn rồi“. Cho chừa!
Cái yêu “sâu thẩm” của Xuân Diệu khác cái yêu dịu dàng của Bàng Bá Lân trong “Tình trong mưa”:
Xa nhìn đắm đuối tìm trong gió
Chỉ thấy màn mưa nước ngập đường.
Ta nhìn theo bước đi run len lén
Bỗng cả lòng yêu náo nức liền.
Yêu một bước đi “run” trong “màn mưa nước ngập đường” không rõ mặt thì chắc chàng yêu đương tột đỉnh với ma men hoặc bậm gan mà yêu đại một… con ma trong mưa. Yêu “ma” khỏi sợ mất bồ! Tính toán bậc thầy! Còn chàng họ Chế chưa thấy mở đầu dạo nhạc cho chữ yêu đã… nhào đại vào nàng, quắp nàng cùng bay lên “Ngủ trong sao”:
Đầu gối lên hàng Thất tinh vừa mọc
…
Ta hôn nàng trong bóng núi mây cao
Ta ôm nàng trong những nguồn trăng đổ
Ta ghì nàng trong những suối trăng sao.
Với “hôn”, “ôm”, “ghì” liên tục của Chế thì thiệt tội nghiệp cho nàng nào vô phước nếu không “thất đởm kinh hồn” vì lời tỏ tình “lý thuyết đi đôi với thực hành” có một không hai này. Yêu thì yêu, muốn “làm gì thì làm”, sao còn la om sòm lên ngu thế, lại vác cả người yêu mà bay lên cao quá lỡ xảy tay… ôi xương tan! Yêu như chàng, thiếp ngán tới trời! Gãy xương cổ bỏ mẹ!
Xuân Diệu vì yêu mà rên. Bàng Bá Lân vì yêu mà bất chấp. Chế Lan Viên vì yêu mà bạo. Còn Nguyên Sa, Nguyễn Bính, Hồ Zếnh, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…?
Vương Duy (Trung Quốc), Nguyên Sa và Nguyễn Bính có hai bài thơ cùng tựa đề “Tương tư“. Tương tư của Vương Duy gởi vào… trái đậu:
Hồng đậu sinh Nam Quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương tư.
Trương Đình Tín dịch:
Đất Nam, hồng đậu sinh này,
Đến xuân lại nảy một vài nhánh cao.
Xin anh hái thật nhiều vào,
Đậu này giữ lấy nhớ nhau suốt đời.
Một kiểu tương tư gắn liền một loại thực vật đầy đủ chất đạm đáng nhớ một đời trong… bao tử! Ui cha! Còn Lý Bạch trong ”Trường tương tư”(Thơ Đường tập II, Viện văn học 1962) thì gởi hồn vào tiếng đàn tri âm khúc của nàng một dạo gặp ở Trường An:
Trường tương tư
Tại Trường An…
Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ
Mộng hồn bất đáo quan sơn nan.
Trường tương tư
Tồi tâm can.
Quỳnh Chi phỏng dịch trên chimviet.free.fr:
Nhớ nhau mãi, ở Trường An
“Trường Tương tư khúc” tiếng đàn đêm thu.
Bay về tìm gặp người thương
Làm sao về đến bên nàng đêm nay??
Quan san muôn dặm đường
Trường tương tư dạ ai hoài canh thâu.
Trong bài thứ hai, Lý Bạch thay tiếng đàn tương tư bằng dáng hoa u sầu:
Nhật sắc dục tận hoa hàm yên
Nguyệt minh như tố sầu bất miên
Triệu sắt sơ đình phượng hoàng trụ
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
…Tích thời hoành ba mục
Kim tác lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Quy lai khán thủ minh kính tiền
Quỳnh Chi dịch:
Bóng chiều bảng lảng hoàng hôn
Trăng lên hoa khép ngậm sương đọng sầu
Trăng soi óng ánh lụa đào
Trăng khuya thao thức dạ sầu ngẩn ngơ
…Sầu dâng đòi đoạn tơ vò
Xa xôi ai có thấu cho chăng là
Khi về đến trước thềm hoa
Gương trong còn bóng dáng hoa u sầu
Trong ”Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã để cho Kiều với ”dáng hoa u sầu”tương tư Kim Trọng qua bóng trăng:
Một mình lặng ngắm bóng nga
Rộn đường gần với nỗi xa, bời bời.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay chăng?
Đêm khuya ngắt tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
và Kiều nhớ nhung Thúc Sinh cũng qua ánh trăng:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Toàn là những tương tư khóc gió than mây gọi hồn tri kỷ cả! Tuyệt vời thay! Thế nhưng khi trăng bị mây che khuất hay khuyết rồi mất hút bên rèm, lúc ấy, ai có còn tương tư ai qua… bóng đêm? Sự tương tư của người xưa ẩn nấp vào một điểm tựa và khi điểm tựa đổ thì trạng thái tinh thần cũng tiêu! Ta hãy coi thử người thời nay tương tư có khác người xưa không?
Hàn Mặc Tử trong ”Trường tương tư” là một tương tư huyền hoặc như khói như sương, âm u đầy nhang khói:
Một mối tình nức nở giữa âm u,
Một hồn đau rã lần theo hương khói,
Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung,
Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn.
Đấy là tất cả người anh tiêu tán,
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ,
Cùng tình em tha thiết như văn thơ,
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.
Tương tư trong “hương khói” với “vũng máu đào” như Hàn thì chắc chắn tình yêu nhang khói “cõi trên” thế kia trước sau gì cũng tan vào trăng với gió! Buồn thật nhưng chẳng chút gì của cái gọi là… thất tình trong thơ Hàn!
Nguyên Sa trong “Tương tư” yêu em trong lớp áo mây:
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?
Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Ðể nắng thu vàng giữa lối đi?
đến nổi… mờ con mắt:
Cho nên đôi mắt mờ hư ảnh
Cả bốn chân trời chỉ có em.
Cái dạng chập chờ, chập choạng “mờ hư ảnh” này nguy quá lỡ mà…“nhìn gà hóa cuốc” vợ người tưởng vợ mình, dễ ăn bợp tai. Trời bao la quá, để chắc ăn nên chàng Sa (Satăng) mới lấy “đinh ba” hô “biến” thành bốn cái cọc đóng giăng nàng lại cho khỏi lộn. Nàng tự do bay nhảy nhưng chỉ trong “bốn chân trời” đó thôi (bốn chân… gường thì nàng“cũng liều một thác cho xong“!).
Nguyễn Bính yêu khác Nguyên Sa, khác hết, tình yêu đến với chàng là cái bệnh:
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,
Bệnh hết trơn vì tương tư? Thiệt ra, có “ấm đầu sổ mũi” gì đâu! Chứng “kinh niên” này của Nguyễn Bính, Đông y, Tây y bó tay. Huê Đà tái thế cũng đầu hàng. Thằng cha này khôn ngoan quá, “sỏ lá” quá nhưng ai cũng nhìn vào, nghe mát lỗ tai cho rằng chàng hiền lành nên yêu chơn chất. Lầm! Này nhé: Dám cả gan cho rằng: ”Trời mắc bệnh mưa gió. Tôi mắc bệnh tương tư yêu nàng”. Thế là “nhất trời, nhì… tôi” rồi còn gì! Mưa (mát mẻ, ướt át). Gió (mát mẻ, vỗ về). Tổng hợp lại: Ta đem cái ướt át, mát mẻ vỗ về này để yêu em. Em đồng ý không? Trời bệnh… mát mẻ, ướt át. Tôi yêu ướt át, mát mẻ. Té ra hai… thằng này… khỏe re mà dám nói bệnh hoạn! (Trời ạ! Nếu có sai thiên lôi thì sai Nguyễn Bính này vác cái búa “Tương tư” giáng xuống là con nguyện chết… ướt trên tay của chàng, ngu gì làm con bướm chết khô!). Ai cũng cho Nguyễn Bính“chân quê” từ xưa đến nay, trật hết trơn!

Các ý kiến mới nhất