Thời gian

Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    CS10.flv Minh_oi_Ha_Van.mp3 Hay_ve_Cam_Thi_Cac__Xuan_TrieuThao_Ngan.mp3 1738000169822040.flv 1738000169822040.flv 728.jpg SM_TCVT.flv THAM_QUAN_DONG_THAP.flv Hinhnenhoahongxanh.jpg Duy_Quang__Binh_Ca_1_.mp3 Coloriykim2000.gif Chen_ruou_Vo_Thuong.flv 0003.gif Dieu_Buon_Phuong_Nam.mp3 003a.gif HON_DI_ANH__Tho_SAO_MAI_.flv Duy_Duy_Nghe_doc_tho_Han_Mac_Tu.mp3 141.gif 350.jpg

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    TIN BÁO MỚI

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cuộc đời nữ sỹ Hồ Xuân Hương

    Hinhnenhoahongxanh
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Hằng (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:10' 22-07-2015
    Dung lượng: 22.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

     

     
    1. Giới thiệu
    Văn học sử Việt Nam ta có ghi ba nữ sĩ nổi danh: Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan (tương truyền tên là Nguyễn Thị Hính) và Hồ Xuân Hương. Trong đó Xuân Hương không trội tiếng nhất thì cũng là vị tài nữ dị thường hơn cả. Dị thường đến độ tác phẩm được cái vinh dự ít có, là bị khai trừ trong hầu hết các sách giáo khoa! Vì thi văn của nàng, nếu cho là phóng đãng, thì phẩm-từ này chỉ là lối nói xuôi đỡ đòn mà thôi... Hơn nữa, thời đại nàng sống đâu đã đến đồi phong bại tục quá cỡ, khiến sui - hay giải thích - sự táo bạo của văn nghệ sĩ! 

    Tuy không tìm ra được bằng chứng xác thực về năm sinh của nữ sĩ, song cũng có một vài mốc giúp ta suy luận được: Xuân Hương sống cùng thời với những người tiếng tăm, như Phạm Đình Hổ, tác giả nhiều sách giá trị và như Nguyễn Huệ - bậc anh hùng đại thắng quân Tàu năm 1788. Nguyễn Huệ sinh năm 1752. Phạm Đình Hổ năm 1768. 

    Nguyễn Huệ nguyên họ Hồ tên tục là Thơm, con của Hồ Phi Phúc, cùng quê ở Nghệ An với Hồ Phi Diễn, thân phụ Hồ Xuân Hương, Cùng quê, cùng họ, nếu suy ra là thân thích với nhau, e mang tiếng cho nhà giàu vay thêm! Xem năm sinh của Phạm Đình Hổ và của Hồ Thơm, chúng ta có thể đoán già là Xuân Hương đã chào đời trong khoảng 1770 - 1775. 

    Mấy khoa hương thi không đậu cả, Hồ Phi Diễn đương là nho sinh, xoay làm thầy đồ dạy trẻ mà cũng thấy khó sống trong đất Nghệ đồng cháy cỏ khô, nên phải lang thang ra Bắc, để vợ ở quê coi mồ mã gia tiên. Bảo bọc ít lâu ở tỉnh Hải dương, bấy giờ đã ngoài bốn mươi, ông gá nghĩa với một bà họ Hà cũng chừng ba chục. Bà này chuộng cai phong độ nhà nho, lại thấy vẻ người hiền lành nhã nhặn, nên chịu làm vợ lẽ miễn là được sống riêng với chồng. 

    Ở tỉnh nhỏ nghe cũng khó mưu sinh ông đồ đem vợ mới về Thăng Long để kiếm chỗ dạy đông trẻ hơn. Ông tìm được ngôi nhà rộng rãi ở phường Khán Sơn ven Hồ Tây (vùng vườn Bách Thú ngày nay, nơi này hiện còn đài Khán Xuân). Người lối xóm ai cũng mến ông là người có tác phong đạo đức, lại nghe giọng nói trọ trẹ nên thường gọi là ông đồ Nghệ chứ không nêu tên. Chính ở khu ngoại thành "cỏ cây chen đá lá chen hoa" này, Xuân Hương đã chào đời vào một ngày mùa xuân. Hai chữ tên là cha đặt cho, lấy nghĩa hương mùa xuân và cũng là hương trên đài Khán xuân. 

    Ông đồ Nghệ sáu năm sau đó bỗng từ trần vì một cơn bạo bệnh, để lại vợ con trong hoàn cảnh nghèo nàn. Nhưng bà đồ là người đảm đang, tuy vất vã về mưu sinh nhưng không ngần ngại cho con gái theo đòí bút nghiên để giữ cốt cách con nhà: giấy rách còn lề không như thói thường, sợ con gái học chữ dễ hư thân. Nhờ vậy mà Xuân Hương được góp mặt trong làng văn tự, đem thiên tài tô điểm cho ngôn ngữ nước ta thêm phần bóng bảy tinh vi, cho tư tưởng dân ta đỡ phần giáo điều cứng ngắc.
     
    2. Hoa tài chớm nở
    Một thiếu nữ được nhiều nho sĩ đương thời cảm mến, ắt là có tài lỗi lạc đã đành, nhưng ai cũng nghĩ, và cũng muốn, cô có dung nhan cá lặn nhạn sa nữa, cho lương toàn hương sắc. Hay đâu tạo hóa thường ghét chư toàn nên ai được chỗ này lại hỏng chỗ kia! 
    Theo tục truyền thì Xuân Hương có nước da ngăm ngăm, má điểm đây đó vài nụ rỗ hoa. Tính nàng ngay thẳng, gặp ai ăn ý thì nói năng duyên dáng mặn mà, nhưng lại không thể không diễu cợt đôi khi sỗ sàng đối với những anh hay chữ lỏng mà vênh vang tự đắc. 
    Thiên tư dĩnh ngộ, học một hiểu mười, nên được thầy yêu bạn nể, nàng lại rộng xem những sách sử ông đồ Nghệ để lại nên mới 13, 14 tuổi đầu mà vốn học uẩn súc ít ai bì kịp. Điều làm cho người ta kính dị là nàng xuất khẩu thành chương, khó có người dám cùng nàng xướng họa. 
    Một buổi trưa nóng bức nàng ngồi chơi ở hàng hiên trường học, ngọn gió hiu hiu làm cho thiêm thiếp ngủ quên, khăn áo có hơi xốc xếch. Ba bốn cậu học sinh xúm lại, chỉ trỏ cười đùa làm nàng chợt tỉnh. Thế là không chút thẹn thò, cũng không hờn dỗi, nàng 
    đọc ngay tám câu chỉnh chện luật Đường: 

    Trưa hè, hây hẩy gió nồm đông 
    Thiếu nữ nằm chơi, giải giấc nồng 
    Lược trúc biếng cài trên mái tóc 
    Yếm đào trễ xuống dưới nương long 
    Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm 
    Một lạch Đào nguyên suối chửa thông 
    Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt 
    Đi thì cũng dở, ở không xong... 

    Mà ở không xong thật, vì Xuân Hương thừa biết mây anh này chỉ hay quấy phá chứ không có tài họa thơ. Có tài họa thơ là mấy anh học giỏi nói năng hoạt bát, thường tụ hội với Xuân Hương để bàn luận văn chương ở sân trường, những khi thầy nghỉ trưa hay đi vắng. 
    Họ thường kháo nhau các chuyện thời sự ở đó đây để gợi hứng cùng nhau ngâm vịnh, và đều đồng ý là dùng tiếng nôm trước hết để đỡ mệt óc sau những giờ nghiền chữ Hán, và để nuôi cái cao vọng phát huy những trạng từ linh động để tỏ rằng tiếng ta hay hơn chữ tàu. 
    Vế quan điểm này, một anh phát biểu: 
    - Nhất định hay hơn. Không phải "dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn" mà ao nhà nhất định là trong. Tôi thử đọc anh em nghe bài thơ vịnh cảnh tát nước mà chị Hương làm hôm nọ: 

    Đang khi nắng cực chửa mưa tè 
    Rủ chị em ra tát nước khe 
    Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm 
    Lênh đênh một ruộng bốn bờ be 
    Xì xòm đáy nước đầu nghiêng ngửa 
    Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve 
    Ham việc làm ăn quên cả nhọc 
    Dạng hang một lúc đã đầy phè... 

    Không nói đến nhưng ẩn ý nằm trong các chữnắngcực, tè, khe, ba góc, dạng hang, đầy phè thử hỏi có chữ Hán nào dịch nổilẽo đẽo, lênh đênh, xì xòm, nhấp nhổm, nghiêng ngửa, vắt ve không nào? 
    Được anh em tán đồng, Xuân Hương cao hứng nói: 
    - Các anh quá khen đấy chứ, mấy câu tục tằn ấy có đáng gì! 
    - Đố tục mà giảng thanh mới thú chứ! 
    - Em chỉ muốn nói rằng nếu ta định dùng nôm thay chữ, thì ta phải học hỏi lẫn nhau để dùng tiếng nôm cho đúng cách. Em đọc thử câu này để phiền các anh họa cho: 
    Lượng cả xin anh chớ hẹp hòi 
    Không nói anh cũng rõlà trong câu họa cấm dùng chữ hẹp trước vần hòi đấy nhé! 
    Thì làm gì có tiếng nào khác đi với hòi? 
    Một anh bèn gỡ bí bàng cách nói lái: 
    Xích lại gần đây tớ thẩm hòi! 
    Và thách Xuân Hương hạ được trót lọt một cău vần uông. 
    Lại không có chữ nào đi với uông cho có nghĩa. 
    Xuân Hương tìm ra lối thoát: 
    Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông 
    Nó bảo nhau rằng ấy ái uông ! 
    Kể ra xuôi đấy, nhưng có người chê: đứng trước cái chuông mà không nói được câu gì hay ho hơn làđấy cái chuông, thì ra đã ngọng còn thêm đần độn... 
    Một hôm, trong buổi họp, có anh nhắc lại câu chuyện thầy vừa mới kể. Khi cụ trạng Mạc Đĩnh Chi sang sứ Trung Hoa, vua Tàu thử tài, cho thị vệ cầm chiếc quạt giơ lên và đánh một tiếng trống, tức là ra đầu đề vịnh cái quạt. Cụ trạng viết:chảy vàng nung đá, trời đất như lò lửa, ngươi vào lúc ấy đắc dụng như Y, Chu; Gió bắc lạnh lùng, mưa tuyết đầy đường, người vào lúc ấy, chết đói như Di, Tề – Thêm câu trong luận ngữ:ai dùng thì làm, không thì để đó, chỉ ngươi với ta có như thế ư? 
    Và phê bình 
    - Luận về cái quạt như thế thật là thấu đáo: hành tàng là thái độ quân tử của nhà nho. 
    - Nhưng đấy là về triết lý. Còn về phần tà thực tưởng cũng nên nói ra cho rành rẽ, cách vật mà... 
    - Phần này dành cho chị Hương nhé! Chỉ có chị mới làm được ra trò... 
    Xuân Hương mĩm cười: 
    - Các anh chớ quá khen... 
    Ngừng giây tát, nàng nói: 
    - Cấm cười đấy! 
    Rồi chậm rãi ngâm: 

    Một lỗ sâu, xâu mấy cũng vừa 
    Duyên em dính dán tự ngày xưa 
    Vành ra ba góc khuôn còn méo 
    Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa 
    Mắt mặt anh hùng khi tắt gió 
    Che đầu quân tử lúc sa mưa 
    Nâng niu ướm hỏi người trong trướng 
    Phành phạch đêm ngày đã sướng chưa? 

    Mấy anh bàn tán: 
    - Hay, hay quá! Lại đúng nữa! Hai chữ sâu, xâu, thật tuyệt, vừa là sâu hoắm lại vừa xâu cái nan quạt. Khép lại thì giữa là cái nan hai bên giấy chả thừa ra là gì! Có điều ê cho mặt anh hùng với đầu quân tử... Nhưng đến lúc phành phạch thì quên hết! 
    Xuân Hương cười: 
    - Để em làm bài khác tạ lỗi với anh hùng quân tử vậy: 

    Mười bảy hay là mười tám đây? 
    Cho ta yêu dấu chẳng rời tay 
    Mỏng dầy chừng ấy trành ba góc 
    Rộng hẹp nhường nào cắm một cây 
    Lúc nóng bao nhiêu bù lúc mát 
    Ban đêm chưa phỉ lại ban ngày 
    Hồng hồng má phấn duyên vì cậy 
    Chúa dấu vua yêu một cái này... 

    Mấy anh lại trầm trồ: 
    - Mỏng, dầy, rộng, hẹp, những ước lượng thật lý thú. Nhưng hay nhất trong bài là chữ cậy. Vừa là nhựa quả cậy để phất cho giấy dính vào nan quạt, lại vừa là cậy có cái để vua yêu. Cái quạt của chị ghê gớm thật... 
    Xuân Hương thường vui vẻ khiêm nhường với những bạn văn thơ, nhưng lại ghét cay ghét đắng những anh chàng hay chữ lỏng mà hay khoe mã. Mỗi lần gặp mặt là xỉ vả hết lời: 

    Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ 
    Lại đây cho chị dạy làm thơ 
    Ong non ngứa nọc châm hoa rữa 
    Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa... 

    Có lần đi dạo cảnh chùa Chấn Quốc ở đường Cổ Ngư ven Hô Tây, nàng thấy mấy thanh niêm cầm bút viết một bài thơ lên vách chùa, ra bộ ngông nghênh tự đắc, liền dừng chân, liếc mắt, tủm tỉm cười, rồi ngâm: 

    Dắt díu nhau lên đến cửa chiền 
    Cũng đòi học nói, nói không nên 
    Ai về nhắn bảo phường lòi tói 
    Muốn sống đem vôi quét trả đền! 

    Tiếng ngâm vừa dứt, quay lại nhìn, thì mấy ông thi sĩ non đã biến đâu mất dạng... 

    * * * 

    Chùa Chấn Quốc là một cảnh chùa ở nơi hẻo lánh xa chốn phồn hoa, sư cụ với sư thầy đều cao tuổi, có học vấn lại có đạo hạnh, nên Xuân Hương rất kính trọng, thường lui tới vàng hương. Còn nàng không ưa những vị sư trẻ ở kinh đô vì phần nhiều thuộc thành phần trốn việc quan đi ở chùa, ít chữ nghĩa mà nhiều tham vọng, chỉ khéo luồn lọt nơi cửa quyền để chiếm những ngôi chùa đẹp, đông khách thập phương, cho dễ no cơm ấm áo. Trông bọn họ múa may, nàng có thơ diễu: 

    Chẳng phải Ngô mà chẳng phải Ta 
    Đầu thì trọc lóc, áo không tà 
    Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm 
    Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà 
    Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe 
    Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha 
    Tu lâu có lẽ lên sư cụ 
    Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà! 

    Diễu cợt, bóng gió, nằm trong bốn câu sau. Rõ rệt nhất là câu ví: Ngất nghểu không cùng hình dáng với ngất ngưởng và tòa sen nọ khác với tòa sen kia? 

    * * * 

    Đầu sư cạo nhẵn mà vô ý bị ong đốt, cũng là đầu đề cho bài thơ chế nhạo không nề thô tục: 

    Nào nón tu lờ, nào mũ thâm 
    Đi đâu chẳng đội, để ong châm 
    Đầu sư há phải gì bà cốt 
    Bá ngọ con ong bé cái lầm! 

    * * * 

    Cái trò no ấm cật dễ khiến một vài vị đeo tiếng hổ mang khiến Xuân Hương trổ tài nói lái: 

    Cái kiếp tu hành nặng đá đeo 
    Vị gì một chút tẻo tèo teo 
    Bè từ muốn ghé về Tây Trúc 
    Trái gió cho nên phải lộn lèo! 

    * * * 

    Chùa Quán sứ nguyên là nơi công quán để đón tiếp sứ thần nước ngoài. Công quán sau thiên đi một nơi đẹp đẽ hơn, ngôi nhà cũ được sửa sang lại thành chùa trông cũng khang trang, song gặp buổi loạn ly, ít ai săn sóc đến, nên Xuân Hương có hai bài cảm hoài: 


    Quán sứ sao mà cảnh vắng teo! 
    Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo? 
    Chày kình, tiểu để xuông không đấm 
    Tràng hạt, vãi lần, đếm lại đeo 
    II 
    Sáng banh không kẻ khua tang mít 
    Trưa trật nào ai móc kẽ rêu 
    Cha kiếp đường tu sao lắt léo? 
    Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo... 

    Xuân Hương thường ngày, tùy cảnh, tùy người, tùy hứng, xuất khẩu thành thơ, bài nào cũng một giọng đùa ý nhị, trôi chảy như một lèo mà vẫn đóng khung trong niêm luật nghiêm chỉnh, là điều khó khăn ít ai vượt được Những bài đắc ý được các bạn ưa ngâm nga trong lúc quần tam tụ ngũ, người nọ truyền tai người kia, thành ra chẳng bao lâu nhà quê kẻ chợ, không đâu không thuộc. Đám trung niên rất tán thưởng lời thơ bóng gió tài tình. Người lớn tuổi ở chỗ đông thì chê là lẳng lơ, đồi trụy, nhưng khi vắng lại thích thú khen thầm. Dù sao, khen hay chê cũng gây nên tiếng tăm hay tai tiếng, đi xa về gần, rốt cuộc rồi đến tai bà đồ. Bà đâm lo ngại, nhất là khi thấy con trong tuổi dậy thì, mỗi ngày thêm phần duyên dáng nên nghĩ rằng cho theo đòi chữ nghĩa để giữ nếp nhà thế cũng là đủ và bảo nàng nghỉ học. Nhiều người thấy nàng thướt tha óng ả cũng muốn tới làm quen nhưng đều ngán cái tính nàng đanh đá và khẩu khí mẫn tiệp. 
    Thật ra, lời thơ tuy có vẻ buông thả và tỏ ra sự thấy biết rành rẽ về những oái ăm của tình cảm, song hình như phẩm hạnh giai nhân không chệch ra ngoài gia huấn, vì nàng giữ giá nên đủng đỉnh làm cao. Thái độ ấy đối với con nhà văn tự là một khiêu khích đáng yêu, nhưng với kẻ phàm phu lại làm họ bất mãn rồi hằn học đến nỗi phao vu là ái nam ái nữ, khiến nàng bực mình, thảo ra bài sau đây: 

    Tự Tình Ca 
    Khi canh cửa, lúc ngồi thư thả 
    Ngẫm sự đời buồn bã gớm ghê 
    Âm dương lấy đó mà suy 
    Côn trùng còn thế, huống chi là người 
    Nghĩ chán thay những lời đặt để 
    Đặt nên lời nói kể những câu 
    Nguồn đào khe đỏ có đâu 
    Khóa bưng lấp cửa công hầu bấy nay 
    Khi thong thả mặt mày ngắm lại 
    Lúc buồn tình tay gãi đã quen 
    Rành rành múi mít hai bên 
    Lùm lùm trai úp, là miền hạ thôn 
    Cỏ rêu mọc xanh rờn cửa tía 
    Lá cờ bay đỏ khé song đào 
    Môi dầy, miệng rộng trán cao 
    Đúng trong tướng pháp: anh hào nghi dung. 
    Ấy rõ thật lá vông dầy đấy 
    Bằng lương nhân trông thấy cũng ghê 
    Há như lá trúc lá tre 
    Mà cười, mà ngắm, mà kề, mà hôn 
    Của trời cho xinh dòn là thế 
    Người sao còn bẻ họe rằng không 
    Nín thì tức, nói thẹn thùng 
    Phải đô bán chợ mà hòng phô trương 
    Mà giá thử như phường tơ kén 
    Vén màn quay bày biện đồ ra 
    Để cho những khách gần xa 
    Thử xem cho biết rằng là có không 
    Nhưng mà thuộc vào dòng quý tướng 
    Bộ râu xồm quai nón phất phơ 
    Màn mùng phủ sớm che trưa 
    Tuyết sương chẳng nhuốm, nắng mưa chưa đành 
    Hoặc có lúc hớ hênh hôm sớm 
    Chỉ những người nhìn trộm mới hay 
    Ví bằng đem để sánh bày 
    Thất kinh vía quỷ, xa bay hồn phàm 
    Nay nhân buổi an nhàn thư thái 
    Chép vài hàng gắm gửi nước non 
    Cậy ai nhắn nhủ ôn tồn 
    Hãy tin rằng có, chớ ồn rằng không 
    Đời đã thiêú anh hùng cát sĩ 
    Cửa phòng the dễ hé cho ai! 
    Tự tình ta viết ta chơi 
    Không không có có, miệng đời xá chi...
     
    3. Bẽ bàng duyên phận
    Mẹ con bà đồ hủ hỉ bên nhau, mẹ tất tả ngược xuôi, nay chợ Bưởi mai chợ Ngọc hà, con thì cặm cụi ngày đêm bên khung cửi. Tuy bận tay chân, Xuân Hương cũng không ngăn được lòng thơ lai láng, đối cảnh dễ sinh tình, lẩm nhẩm mấy câu khe khẽ mà tủm tỉm cười thầm: 

    Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau 
    Con cò mấp máy suốt đêm thâu 
    Hai chân đạp xuống nâng nâng nhấc 
    Một xuốt đâm ngay thích thích mau 
    Rộng hẹp nhỏ to vừa đúng cả 
    Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau 
    Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ 
    Có thấm vào trong mới dại màu 

    Bà đồ nghe lõm bõm, bực mình, phàn nàn: 
    - Thơ với thẩn? Đêm hôm làm đã cực nhọc, còn nâng nâng thích thích cái gì chỏng lỏn, khó nghe thế! Chả trách họ đồn đại ra ngoài cũng không oan... 
    Bà vốn đã phiền lòng về điều kia tiếng nọ, lại gặp lúc phường xóm không được yên ổn, nhà quê kẻ chợ cướp bóc tứ tung, nên chỉ mong sao con gái sớm có nơi có chốn cho đỡ lo ngại. 

    Trong xóm có viên phó tổng tên tục là Cóc, nhà rất giàu có. Tuy đã lớn tuổi, vợ con đầy đàn, nhưng quen thói ăn chơi, mỗi khi đi qua cửa, thấy Xuân Hương như quả chanh cốm ngon lành, đâm thèm nên mượn người ướm lời xin bà đồ cho cưới làm bậc hai. Bà đồ biết tính con gái cứng đầu cứng cổ khi nào chịu làm thân lẽ mọn, nhưng cũng cứ lựa lời, đêm vắng tỉ tê, nào cảnh nhà thanh bạch, nào nỗi nước loạn li, mẹ tuổi ngày càng cao, sức ngày càng yếu, mà thấy con còn lắng đắng chưa yên, lỡ ra có mệnh hệ nào thì nhắm mắt sao đành. Xuân Hương tự nghĩ: mình như con ngựa bạch mà đem thắng dây cương bằng thừng chả oan uổng lắm sao! Nhưng mẹ già đã chật vật vì mình quá nhiều rồi, cần phải được nghỉ ngơi. Thôi thì một hạt mưa dào đã không được vào vườn hoa thì cũng đành sa xuống giếng chứ sao: một liều ba bẩy cũng liều, miễn được cái vốn cho mẹ dưỡng già... 

    Thế là một buổi chiều, mấy người bên nhà ông tổng đến đón Xuân Hương. Nàng lạy mẹ, rồi rưng rưng nước mắt xách nón quai thao theo sang nhà chồng. Ở đây sự đối đãi không niềm nở lắm, nhưng cũng không đến nỗi tẻ nhạt... cho ông Cóc hài lòng. Ông không hài lòng sao được? Ông mở cờ trong bụng! Cho nên hương cũng đượm lửa cũng nồng... trong buổi ban đầu lưu luyến. Chỉ tiếc rằng sau đó chừng một tháng sự lưu luyến đó bắt đầu giảm độ rồi dần dần ông vắng bóng cả tuần trong chốn phòng hương. Lý do một phần là lực bất tòng tâm, phần nữa ông phải lấy lòng bà cả, nhưng phần lớn là vì ông vốn máu mê cờ bạc, thường mài miệt ở các sòng thâu đêm suốt sáng, đến khi về nhà là chỉ lăn ra ngáy khò khò, còn lúc nào đâu để thương ngọc tiếc hương! Cho nên Xuân Hương cảm thấy bẽ bàng, trong những đêm trăn trọc một mình không tránh được nổi tủi phận hờn duyên. 

    * * * 

    Mối duyên không đượm này, rồi cũng không bền. Chừng nửa năm sau, ông tổng thốt nhiên đâm bệnh: cảm mạo thường thôi, ai ngờ trở thành trầm trọng, thuốc hay thầy giỏi không cải được mệnh trời, một buổi sáng ông trút hơi thở cuối cùng. Xuân Hương nức nở mấy câu, không tránh được giọng mỉa mai trong niềm cay đắng phận mình: 

    Hỡi chàng ơi, ới hỡi chàng ơi, 
    Thiếp bén duyên chàng có thế thôi 
    Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé! 
    Ngàn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi 

    Tục truyền khi con cóc chết, lấy vôi đánh dấu vào đầu nó thì ba năm sau nó sống lại, quay đầu về núi. Xuân Hương sẽ bỏ ngàn vàng không tiếc để mua lại cái dấu vôi, kẻo Cóc lại trở về... 

    Chôn cất xong xuôi, nàng lại xách nón trở về nhà với mẹ, tâm tư như trút được gánh nặng ngàn cân khi tìm lại được niềm an ủi trong tình thâm mẫu tử. Mẹ con sống êm ả bên nhau, rau dưa đắp đổi, thấm thoát gần một năm tròn. Bà đồ vì bao năm vất vả, sức vóc suy nhược nên những lúc mưa nắng thất thường, gió sương trái tiết, lại mệt mỏi, vài ngày không dậy được. Dần dà như chuối chín cây, tuy Xuân Hương hết lòng nâng giấc chăm nom mà không tránh được ngày rơi rụng. Cái tang này mới thật là một mất mát to lớn, vô cùng đau đớn cho Xuân Hương. Một thân vò võ, nước mắt nghẹn ngào, muôn phần cay đắng. Bà con lối xóm đi lại thăm hỏi, một vài môn sinh của ông đồ Nghệ khi xưa, dăm bẩy bạn đồng song cũ, nghe tin rủ nhau đến, giúp giập đỡ đần, Xuân Hương cũng khuây khỏa đôi chút. 

    Rồi ngày qua tháng lụn, nhang sớm đèn khuya, xong giỗ đầu đến giỗ hết, đạo hiếu lo tròn, bấy giờ mới thấy thân mình thật là quạnh hiu trơ trọi, không còn gì bấu víu với đời...
     
    4. Quán ngọc hồ
    Tưởng thế thôi, chứ với đời Xuân Hương cũng còn có chỗ bấu víu: nhóm bạn học cũ vẫn năng tới thăm nom và hết lòng gỡ rối những khó khăn trong công ăn việc làm hàng ngày. 
    Một hôm, nghe Xuân Hương phàn nàn về thời buổi gieo neo, dệt cửi và mua bán sợi vải chăm chỉ hết mình mà cũng không được xởi lởi, một bạn đề nghị: 
    - Hay là Hương chịu khó xuống dưới phố thuê cửa hàng, có lẽ đỡ hơn? 
    - Trăm tội không gì bằng nghèo, anh ạ! Giá có vốn thì còn nói gì! 
    Anh khác gạt đi: 
    - Cần gì phải đi đâu? Hương cứ nghe tôi: Đây xa nơi thị tứ thật, nhưng có cảnh hồ Tây, có vườn Ngọc Hà, mùa nực thiếu gì khách thừa lương! Không những thế, những tài bảy bước thành thơ của Hương, tôi đi chơi trong đất Thăng Long này, thấy không đâu không có người hâm mộ. Vì thế, tôi tưởng tốt hơn hết là Hương mở ngay tại nhà một quán trầu nước, không sợ lỗ vốn đâu, sẽ có nhiều bạch diện thư sinh kéo đến, cho mà xem! 
    - Nhưng mình con nhà học trò, chưa mở quán bao giờ, thì biết đường nào mà lần? 
    - Cái đó không lo, tôi sẽ nhận việc trang hoàng cho ra vẻ một cái quán thanh lịch thu hút tao nhân mặc khách bằng những thú hấp dẫn như rượu Võng thị ngâm bồ, như trà đầu xuân ướp kim cúc... Ở vùng này lại có tôm cá Nghi tàm ngon nổi tiếng. Với lại có Hương nữa, chả tươm là gì. Chỉ cần Hương nhũn nhặn chiều khách, đừng riễu cợt quá mà người ta giận đấy... 
    Xuân Hương trầm ngâm một lát, nghĩ bụng: "Anh này bàn cũng phải, biết đâu cái quán này chẳng trở thành một thứ chợ đời, cho mình chọn bạn?" Ý đã quyết liền nói: 
    - Vâng thì mở quán, nhưng cũng phải đặt một cái tên cho văn vẻ, chứ chả lẽ gọi xuông là quán nước? 
    - Thì đó ta sẵn có hai thắng cảnh, là hồ Tây và Ngọc Hà, đặt ngay là quán Ngọc Hồ, chả đẹp chán rồi ư? Chữ hồ ( ) này không những đồng âm với họ Hồ ( ) lại còn với ( ) trong câu thơ của Vương xương Linh, gợi lên được ý nhất phiến băng tâm kia đấy...[1] 
    - Thôi đi, còn băng tâm cái con vồ gì nữa![2] 
    - Hương ạ, cái gì đã qua thì cho qua luôn, nghĩ đến cái sắp tới mới là thức thời... 
    - Cám ơn anh đã vạch cho một lối để đi tới. Vậy chúng ta bắt tay vào việc ngay nhé: năm sắp hết rồi, nên chuẩn bị để kịp khai trương vào dịp Tết cho may mắn. 

    * * * 

    Ngôi nhà tường gạch mái tranh, hai lớp cách nhau một sân khá rộng. Trông ra đường có mảnh vườn xinh xinh, bên trồng hoa, bên râm bóng cây mít. Nhà trong là nơi phòng khuê. Nhà ngoài làm quán: ghế tre, bàn gỗ đơn sơ nhưng xếp đặt ngay ngắn, trang nhã. Hai bên vách, vôi mới trắng tinh, tay phải bức tranh Hai cô Tố Nữ, với bài thơ này: 

    Bao nhiêu tuổi thế, hử cô mình? 
    Chị đã xinh mà em cũng xinh! 
    Đôi lứa như in tờ giấy trắng 
    Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh 
    Phiếu mai chi đám tình trăng gió 
    Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh 
    Còn thú vui kia sao chẳng vẽ? 
    Trách người thợ vẽ khéo vô tình... 

    Tường phía trái, anh bạn vẽ chấm phá cảnh đánh đu ngày Tết, khoảng trên bài thơ vịnh: 

    Tám cột khen ai khéo khéo trồng 
    Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông 
    Trai co gối hạc, khom khom cật 
    Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng 
    Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới 
    Hai hàng chân ngọc ruỗi song song 
    Chơi xuân, có biết xuân chăng tá? 
    Cột nhổ di rồi... lỗ bỏ không... 

    Hai bên cột cửa ngoài dán đôi câu đối viết trên giấy hồng điều điểm kim nhũ: 
    Tối ba mươi khép cánh càn khôn, đóng chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới 
    Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào! 

    * * * 

    Tính rằng sáng mồng một mở toang cho thiếu nữ rước xuân, nhưng lại e thiên hạ né điềm xông đất mà không dám đến, nên mồng bốn mới thực sự Ngọc Hồ mở quán. Mới đầu, một vài người rụt rè bước vào, ngày sau đông hơn, sau lại đông hơn nữa. 
    Mới biết anh bạn đoán đúng: phàm phu thì ít, phần nhiều là đám chữ nghĩa vì hiếu kỳ mà đến. Mà kỳ thật: phụ nữ bán quán thì thiếu gì, nhưng ít người có học, phụ nữ có học thì náu trong khuê các hoặc có sáng tác, cũng ở trong khuôn khổ cương thường, chứ có ai như Xuân Hương hễ xuất khẩu là trai lơ bóng gió, nói ra toàn những đìêu kiêng kị! Người ta coi cô nàng như một thứ yêu tinh thần nữ, nên ai cũng tò mò tới xem cho biết! 
    Vả lại nghe cô chủ quán đối đáp duyên dáng, ai chẳng nức lòng? 
    Một anh khóa xem bức vẽ Đánh Đu, nói nhỏ nhẹ: 
    - Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không... Thì trồng cột khác khó gì! 
    - Thế mà khó đấy cậu ạ! Là vì cũng phải cột táu cột lim, chứ cột tạp thì được mấy nả! 
    Anh khóa trố mắt, lặng lẽ rút lui... 
    Anh thư sinh khác đọc bài thơ Hai cô Tố Nữ, thắc mắc: 
    - Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, trách người thợ vẽ khéo vô tình... Tôi nghĩ người ta hữu tình đấy! Giấu đi để cho phải tìm, mới hay chứ! 
    - Chắc cậu hay chơi ú tim... 
    - Chơi ú tim đến lúc òa mới sướng... 
    - Vâng, cũng có khi ú tim mà tìm chẳng ra? 
    - Biết đâu chừng, cô nhỉ! 

    * * * 

    Chiều hè oi ả, Xuân Hương ra hóng gió ngoài cửa quán, một anh khăn lượt áo the thủng thỉnh đi tới, thấy cây mít rủng rỉnh những quả, tủm tỉm nói: 
    - Mít nhà chắc thơm lắm đây, cô quán nhỉ? 
    Xuân Hương nghĩ bụng: trông cũng sạch nước cản đây[3]liền ứng khẩu: 

    Thân em như quả mít trên cây 
    Da nó sù sì, múi nó dầy 
    Quân tử có thương thì đóng nõ 
    Xin đừng mân mó... nhựa ra tay! 

    Anh chàng mặt đỏ dừ, giả vờ ấp úng: 
    - Thưa cô, tôi không am hiểu mấy về cây cối, cô bảo đóng nõ là thế nào cơ? 
    Tài trai mà không biết? Muốn đóng nõ, phải hái mít xuống đã... 
    - Thế à! Rồi phải làm sao nữa, hử cô? 
    - Rồi rút cuống mít ra lấy cái nõ là một khúc gỗ dài bằng gang tay, to bằng ngón chân cái, nong lô cuống cho rộng để nhựa chảy ra, nắng soi vào thì mít chóng chín. Nhưng nhựa nó ra tay, khó chịu lắm đấy! 
    - Ồ mít có gai, ai dám mân mó... 
    - Phải để ý vào chứ! 
    Có lần đằng ô Yên Phụ đem lại một rổ ốc nhồi, con nào con nấy tròn ủng. Xuân Hương cho ngâm nước vo gạo một đêm, hôm sau đem luộc chín, rồi nhân lúc vắng khách, gọi người nhà quây quần lại ngồi ngay nơi nền đất, lấy gai khều vẩy, vừa ăn vừa xuýt xoa, nước mắt nước mũi ràn rụa. 
    Vừa hay một ông khách vào quán, thấy thế nói đùa: 
    - Ốc ngon quá nhỉ! Nào cho tôi ngoáy vài con... 
    Trông khách có vẻ cục mịch, lại ăn nói sỗ sàng, Xuân Hương không buồn chào hỏi, thủng thỉnh ngâm: 

    Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi 
    Đêm ngày lăn lóc đám bùn hôi 
    Quân tứ có thương thì bóc yếm 
    Chứ đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi 

    Rồi cô đứng lên vào nhà trong, để mặc cho người nhà tiếp đãi... 

    * * * 

    Một hôm trời đã nhá nhem, hai người mặc thường phục tới quán, một trông vạm vỡ, râu ria xồm xoàm, một thì loắt choắt, mày râu nhẵn nhụi. Ông này ỏn ẻn: 
    - Chẳng giấu gì cô quán, vị này là quan lãnh trong thành nội, còn bỉ nhân giữ chức thị vệ ở nội cung, chẳng mấy khi có dịp ra chơi bên ngoài. Nay nghe tiếng cô là tay tài nữ nên... 
    Rồi ông ta lắc lư ngâm hai câu: 

    Rằng nghe nổi tiếng tài danh 
    Thử xem có được mắt xanh để vào! 

    Xuân Hương cười nụ, nghĩ thầm: rõ khéo, để vào thì để vào đâu kia chứ? Nhưng cũng ôn tồn thưa: 
    - Em thì tài danh gì đâu, chẳng qua chỉ nôm na ít câu tục tĩu không đáng để vào tai bậc trí thức như các quan... 
    - Không sao đâu, có tục có thanh mới thành giai cú chứ. 
    - Vậy em xin phép mừng quan Thị trước một bài: 

    Mười hai bà mụ ghét chi nhau 
    Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu? 
    Rúc rích thây cha con chuột nhắt 
    Vo ve mặc mẹ cái ong bầu 
    Đố ai biết được vông hay tróc 
    Còn kẻ nào hay cuống với đầu 
    Thôi thế thì thôi, thôi cũng được 
    Ngàn năm khỏi chịu tiếng trong dâu! 

    Quan Thị cảm thấy đau hơn hoạn, mặt mày xanh xám, mắc cở với bạn đồng hành, song cũng cố nén giận để chữa thẹn: 
    - Thơ cô hay đáo để... Đáo để! Nhưng... nhưng mà... nhưng mà thôi? Cô hãy tặng quan lãnh đây một bài đi, cho vui? 
    Bấy giờ, quán mới lên đèn, Xuân Hương tươi cười đáp: 
    - Vâng, em có mấy câu để tỏ lòng khâm phục tài thao lược của quan Lãnh: 

    Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn 
    Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn! 
    Đầu đội nón da loe chóp đỏ 
    Lưng đeo bị đạn rủ thao đen... 

    Vừa dứt câu thì quan Lãnh đẩy ghế đứng phắt dậy, mặt hầm hầm, kéo tay quan Thị bỏ đi, không một tiếng chào. 
    Mấy người khách quen, từ nãy giờ nghe thơ chỉ tủm tỉm đưa mắt nhìn nhau, giờ mới phá ra cười: 
    - Nữ sĩ sao mà độc miệng thế! Người ta quan cách thế mà nỡ ví với cái của nợ! Các quan giận là phải... 
    - Tôi cứ nghĩ lão ta không hiểu kia đấy. Nhưng biết nổi giận thì cũng là thông minh. Còn hơn nhiều tướng tá? 

    * * * 

    Quán Ngọc Bô nổi tiếng đến độ người ngoại quốc cũng muốn tham quan! Một chú Tàu có máu văn nhân, một hôm tìm tới. Chừng mới theo đạo quân Tôn sĩ Nghị sang, nên chưa nói được tiếng ta, xồ một thôi tiếng Quảng đông, Xuân Hương không hiểu gì cả, nhưng thấy tia mắt có vẻ sỗ sàng. Liền cầm bút viết: 

    Chân đi hài Hán, 
    tay bán bánh Đường, 
    miệng nói líu lường 
    Ngây ngô, ngâý ngố 

    Chú Tàu cầm xem, đọc được mấy chữ Hán, Đường, Lương, Ngô còn thì chữ nôm rậm rì, chưa từng đọc qua, e rằng công kích sự xâm lược của mình chăng, nên uống chén trà rồi cười hề hề, đứng lên cáo thoái. 

    * * * 

    Vào cữ tháng ba, một hôm Xuân Hương đang bận làm bánh trôi nước[4]thì người nhà vào thưa: Một cậu công tử có tiểu đồng điếu cháp theo sau, ngỏ ý muốn được gặp chủ quán. 
    Xuân Hương bảo hỏi xem là ai, thì mới hay là cậu Phạm Đình Hổ. 
    - À cậu Chiêu đây mà! Cậu là danh gia tử đệ đấy. 
    Cô giở bận một chút, hãy đưa mấy câu này ra trình trước đã... 
    Người nhà đem tờ hoa tiên ra, cậu chiêu giơ lên xem thấy bốn câu: 

    Quả cau nho nhỏ, lá trầu hôi 
    Này của Xuân Hương mới quệt rồi 
    Có phải duyên nhau thì thắm lại 
    Đừng xanh như lá, bạc như vôi 

    Liền gọi tiểu đồng mở cháp lấy giấy bút đáp lời: 

    Người Cổ lại còn đeo thói Nguyệt 
    Buồng Xuân chi để lạnh mùi Hương! 

    Xuân Hương đọc qua, mỉm cười: Cổ ghép Nguyệt là chữ Hồ, gọi hẳn tên họ mình ra, lại trêu mình trong cảnh quạnh hiu! Vội vấn khăn lại rồi cho mời khách vào. 
    Thấy người có vẻ tuấn tú phong cách hào hoa, nàng rất đẹp lòng, chào mời vồn vã: 
    - Chả mấy khi rồng đến nhà tôm, xin mời công tử ngồi đây, dùng chén trà đạm bạc này, may ra hương cúc Thúy sơn sẽ khiến buồng xuân đỡ lạnh chút nào... 
    Chiêu Hổ[5]cười nụ: 
    - Khẩu trầu ngoài kia đưa, tôi chưa dám thử xem "quệt" ra sao, vì sợ mình yếu bóng vía, chưa gì đã say... đâm ra ngất ngư... 
    Xuân Hương ửng hồng đôi má, vội nói lảng: 
    - Thật là quý vật tìm quý nhân đây nhá: chả nhân tết hàn thực, nhà có làm ít bánh trôi nước, để mời công tử nếm thử vài viên... 
    Thử vài viên? Quý nương nói đúng quá đi mất thôi? Nhưng tôi có tật "đưa cay" trước đã... 
    Xuân Hương vội lấy bình rượn Võng thị rót vào chén sứ, nâng mời. Chiêu ghé môi, nhấp nhắp, đầu gật gù, mắt liếc ngang, tay cầm thìa vớt viên bánh, nhấm nhí ra điều tán thưởng, rồi chậm rãi khen: 
    - Rượn ngon, người đẹp, bánh lại
    Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Thị Tuyết Hằng)
     
    Gửi ý kiến

    Không dừng lại